BỆNH TƯƠNG TƯ – Một biểu hiện nhân bản của văn chương- TRẦN PHÒ
Khi Kinh Thi nói: “Nhất nhật bất kiến như thu tam hề” thì có nghĩa là từ thời xa xưa, người ta đã phát hiện triệu chứng nhớ nhung của bệnh tương tư. Yêu nhau mà không gặp nhau, mà xa cách nhau thì sinh ra bệnh tương tư. Nói một ngày dài bằng ba mùa thu, tức là nói tới thời gian chờ đợi, trông mong, thời gian mà H.Bergson gọi là thời gian tâm lí.
Trong ý nghĩa ấy, một bài thơ dân gian Trung Quốc lại diễn tả khái niệm tương tư theo một cách khác:
“Quân tại Tương Giang đầu
Thiếp tại Tương Giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương Giang thủy”
Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau mà không gặp nhau
Cùng uống nước sông Tương

Hình ảnh chàng đầu sông, thiếp ở cuối sông vẽ lên khá cụ thể sự ngăn cách tình yêu giữa hai người. Tương tư là nhớ nhau, nhớ nhau mà xa nhau mà “vẫn cùng” nhau.
Lý Bạch nhà thơ Đường miêu tả bệnh tương tư qua hình tượng ba năm còn nghe thấy:
“Người đẹp ở đây hoa đầy nhà
Người đẹp đi rồi giường bỏ trống
Trong giường chăn thêu cuốn lại không nằm
Đến nay ba năm còn nghe hương
Hương thì không thể mất
Người thì không trở về
Tương tư vàng lá rụng
Sương trắng đẫm rêu xanh”
Một mùi hương ba năm còn nghe thấy, đó là hương vị của tình yêu, đó là thời gian tâm bệnh của tương tư. Hình như có một nhà thơ mới đã từng thảng thốt kêu lên:
“Có nàng áo tím đi ngang đấy
Hương đượm ba ngày hương chửa tan”
Làm sao một mùi hương “ba ngày chưa tan”, ba năm chưa mất thì chỉ có những người đang yêu nhau mới hiểu nổi.

Nói như vậy là bởi vì chỉ có con người mới biết yêu, chỉ có con người mới có bệnh tương tư, và chỉ có con người mới lẩn thẩn mà hỏi:
“Tương tư không biết cái làm sao
Muốn vẽ mà chơi vẽ được nào
Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện
Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao
Trăng soi trước mặt ngờ chân bước
Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào
Một nước một non người một ngả
Tương tư không biết cái làm sao”
(Nguyễn Công Trứ)
Đó là tâm trạng của một người đang mắc bệnh yêu, tâm trạng ấy, mãi cho đến những nhà thơ lãng mạn thì mới được miêu tả một cách tinh vi và đầy đủ:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một nguời chín nhớ mười mong một người
Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Hai câu đầu có thể coi là ca dao. Đó là cái nhớ “vô ngã” của chủ nghĩa cổ điển. Câu thơ thứ nhì có cách kiến trúc độc đáo. Cách kiến trúc độc đáo ấy làm ta hình dung được hình ảnh người ở đầu sông, người ở cuối sông. Đến hai câu sau thì rõ ràng là cách nói của thi pháp lãng mạn, gọi đích danh sự vật, sự việc và nhất là “cái tôi” hiện diện rõ rệt trong thơ. Dùng khái niệm “bệnh tương tư” thì không mới, vì trong truyện Phan Trần, người ta đã gọi như vậy “Bệnh tương tư dễ nực cười”. Nhưng cái mới của Nguyễn Bính là ở chỗ ông gọi đích danh “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Cho nên có thể nói nhà thơ Nguyễn Bính là người đã định nghĩa xuất sắc nhất và đồng thời cũng nghệ thuật nhất khái niệm “bệnh tương tư”.
Tiếp theo sau định nghĩa ấy, nhà thơ dẫn ta vào thời gian tâm hồn cực kỳ vi diệu của một người đang yêu, đó là nỗi thắc mắc, niềm trông đợi xen lẫn với trách móc, hờn dỗi, ước mơ …
Muôn đời chuyện tương tư vẫn là chuyện nhớ, đấy chính là một biểu hiện hết sức nhân bản của văn chương:
Quái lạ làm sao cứ nhớ nhau
Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu
Bốn phương mây nước người đôi ngã
Hai chữ tương tư một gánh sầu
(Tản Đà – Tương tư)
Nguyễn Văn Hiên @ 09:31 24/06/2018
Số lượt xem: 1739
- ĐỂ QUÁN QUÁN ĐỔ, ĐỂ CẦU CẦU XIÊU-ST (24/06/18)
- VỢ CHỒNG (09/05/15)
- CHUYỆN VỢ CHỒNG-st (17/01/15)
- MỐI TÌNH XA XƯA- AN KHANG (17/01/15)
BỆNH TƯƠNG TƯ